Các biến thể mới của SARS-CoV-2: các đột biến, sự lây lan, mức độ nặng, hiệu quả của vaccin và chiến lược điều trị

Các biến thể mới của SARS-CoV-2: các đột biến, sự lây lan, mức độ nặng, hiệu quả của vaccin và chiến lược điều trị

(New SARS-CoV-2 variants: mutations, transmissibility, severity, vaccine effectiveness and therapeutic strategies)

Bệnh coronavirus 2019 (coronavirus disease 2019: COVID-19) do coronavirus-2 của hội chứng hô hấp cấp tính nặng (severe acute respiratory syndrome coronavirus 2: SARS-CoV-2) thuộc nhóm Betacoronavirus, lây nhiễm cho người. 

SARS-CoV-2 có thể có nguồn gốc từ dơi hoặc tê tê. SARS-CoV-2 lần đầu xuất hiện tại tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc 12/ 2019 và nhanh chóng lây truyền từ động vật sang người và từ người sang người qua đường hô hấp.

SARS-CoV-2 gây ra bệnh hô hấp cấp COVID-19 từ nhẹ đến nặng, có thể dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp (acute respiratory distress syndrome: ARDS) hoặc suy đa tạng (multi-organ failure).

Sự đột biến đầu tiên D614G ở Trung Quốc, sau đó xuất hiện biến thể mới ở Anh Quốc B.1.1.7 với đột biến N501Y, … đã dấy lên sự quan tâm về khả năng lây nhiễm, mức độ nặng, khả năng của vaccin và đáp ứng điều trị. 

Trong một NC trên 387.008 bn (+) tính với COVID-19 bằng PCR, có 7.549 bn COVID-19 bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), Meza D và cs, 2021 thấy rằng các bn bị COPD có tỷ lệ nhập viện cao hơn (62% so với 28%) và có tỷ lệ tử vong cao hơn (15% so với 4%) so với các bn không bị COPD.

Các biến thể mới của SARS-CoV-2

1. Sinh học của SARS-CoV-2

1.1. Cấu trúc bộ gen của SARS-CoV2

SARS-CoV-2 là một virus có bộ gen là một RNA sợi đơn, dương, có kích thước 29,9 kB. SARS-CoV-2 gồm có 14 khung đọc mở (open reading frame: ORF), mã hóa cho 27 loại protein khác nhau. 

1.2. Vùng gắn thụ thể RBD và dưới vùng kiểu gắn thụ thể RBM 

Cấu trúc vùng gắn thụ thể RBD (receptor-binding domain) (aa333 - 527), dưới vùng kiểu gắn thụ thể RBM (receptor-binding motif) (aa438 -506) của SARS-CoV-2, là vùng tương tác trực tiếp với enzyme chuyển angiotensin 2 ACE2 (angiotensin-converting enzyme 2) của vật chủ, giúp SARS-CoV-2 gắn vào vật chủ (Hình 2).

1.3. Các đột biến dưới vùng RBM           

Các đột biến dưới vùng RBM như K417, E484 và L452 làm dễ dàng cho virus thoát khỏi tác dụng của kháng thể, còn đột biến N501 làm tăng khả năng gắn của protein S vào ACE2, nghĩa là làm tăng khả năng lây nhiễm (Hình 3).

1.4. Vòng đời của SARS-CoV-2 

Vòng đời hay chu kỳ nhân lên của SARS-CoV-2 trong TB chủ gồm 9 giai đoạn: 

1) SARS-CoV-2 xâm nhập vào TB: protein gai (S) của SARS-CoV-2 gắn vào thụ thể ACE2 (angiotensin-converting enzyme 2) và TMPRSS2 (transmembrane protease serine 2) để vào TB bằng hòa màng (fusion) hoặc nhập bào (endocytosis)

2) Phóng thích bộ gen RNA (+) ra khỏi virus 

3) Dịch mã (translation) để tổng hợp RNA phụ thuộc RNA polymerase (RdRp) của virus, tạo phức hợp enzym sao chép và phiên mã (replicase-transcriptase complex), xúc tác sao chép RNA (RNA replication) bộ gen (+) thành RNA bộ gen (-).

4) Sao chép bộ gen RNA (-) (RNA replication) thành RNA bộ gen (+) (genomic RNA) nhờ enzym RdRp. 

5) Phiên mã dưới bộ gen không liên tục (transcription) RNA (-) bộ gen thành các mRNA (+) dưới bộ gen (subgenomic mRNA) của nucleocasid (N), S, M và vỏ (E). 

6) Dịch mã (translation) các gen cấu trúc mRNA thành các protein cấu trúc tương ứng và các protease trong các lưới nội bào (endoplasmic reticulum: ER).

7) Lắp ráp các protein S, E và M với N để tạo bao nhân, protein N tạo phức hợp với RNA bộ gen mới trong các ngăn trung gian giữa lưới nội bào và túi Golgi.

8) Hình thành virion trưởng thành (virion) trong các túi Golgi.

9) Virus bài xuất (exotosis) ra khỏi tế bào.

2. Cách xử lý mẫu và giải trình tự toàn bộ bộ gen của các biến thể SARS-CoV-2 mới

2.1. Thu thập mẫu. 

Các mẫu gạc dịch mũi và họng (tỵ-hầu) được thu thập và đặt trong môi trường vận chuyển virus khi thu thập, bảo quản theo các quy trình Quốc tế. Chẩn đoán được thực hiện bằng các quy trình đối với SARS-CoV 2, đã được WHO phê duyệt.

2.2. Xử lý mẫu và bộ gen. 

Các mẫu được tách chiết và khuếch đại RNA. Các chất nổi ly tâm và lọc đã được xử lý bằng Turbo DNase và RNase. Các acid nucleic được chiết xuất bằng bộ kit RNA/DNA, sử dụng acrylamide tuyến tính làm chất mang RNA. 

Tổng số DNA bổ sung (cDNA) được tổng hợp bằng cách sử dụng hệ thống sao chép ngược SuperScript III (Thermo Fisher) và mồi A (5′-GTTTCCCAGTAGGTCTCN9-3′), có trình tự 9-mer thoái hóa ở đầu 3′. 

Sợi DNA thứ hai được tạo ra bởi hai vòng tổng hợp với Sequenase 2.0, tiếp theo là 15 chu kỳ khuếch đại bằng cách sử dụng DNA polymerase và mồi B (5'-GTTTCCCAGTAGGTCTC-3), lai với đầu 5′ của mồi B. 

Việc nhân đôi DNA-stranded được tinh sạch bằng cách sử dụng bộ làm sạch và cô đặc DNA (Taboada B, 2020 [11]). 

2.3. Giải trình tự toàn bộ bộ gen 

DNA tương ứng với bộ gen RNA của SARS-CoV-2 được sử dụng để giải trình tự toàn bộ bộ gen bằng kỹ thuật giải trình tự Sanger (Sanger sequencing) hoặc kỹ thuật giải trình tự thế hệ tiếp theo (next-generation sequencing: NGS). 

2.3.1. Kỹ thuật giải trình tự Sanger 

Trình tự nucleotid của bộ gen của SARS-CoV-2 được đối chiếu với bộ gen tham chiếu của SARS-CoV-2 (SARS-CoV-2 reference genome) NC-045512.17 để phát hiện các đột biến gen, sau đó được chuyển đổi thành các gốc aa tương ứng. Phân tích các đột biến kết thúc (stop), dịch khung (framehift), xóa và chèn để phát hiện các thay đổi thứ tự các aa trong chuỗi polypeptid của SARS-CoV-2 (Koyama T, 2020 [5]). 

2.3.1. Kỹ thuật giải trình tự thế hệ tiếp theo 

Với độ nhạy cao, mạnh, độ phân giải đột biến cao hơn, số lượng mẫu nhiều hơn, tạo ra nhiều dữ liệu hơn so với giải trình tự Sanger, NGS cho phép xác định các biến thể SARS-CoV-2 mới. Đối chiếu trình tự nucleotid thu được với chuỗi nucleotid từ GenBank, có thể phát hiện các đột biến của các biến thể mới của SARS-CoV-2 trong vòng chưa đầy một ngày (Koyama T, 2020 [5]).

3. Các biến thể mới của virus SARS-CoV-2

Một số đột biến ở protein gai của các biến thể SARS-CoV-2 có thể làm tăng ái lực của vùng gắn thụ thể RBD (receptor-binding domain), đặc biệt là của dưới vùng RBM (receptor-binding motif), là nơi gắn trưc tiếp protein gai với thụ thể enzym chuyển 2 ACE2 (angiotensin-converting enzyme 2) của TB đường hô hấp của người. 

Bốn điều đáng quan tâm chính đối với các biến thể mới là ảnh hưởng của chúng trên khả năng lây truyền, mức độ nặng, tỷ lệ tái nhiễm và hiệu quả của vaccine. 

Các loại biến thể SARS-CoV-2 cần quan tâm (variants of concern: VOC), cần chú ý (variants of interest: VOI) và đang được theo dõi (variants under monitoring) được Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh hoa Kỳ (CDC) cập nhật đến ngày 15/6/2021 và Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Châu Âu (ECDC) cập nhật đến ngày 18 tháng 6 năm 2021, gồm:

3.1. Các biến thể SARS-CoV-2 cần được quan tâm 

Các biến thể cần được quan tâm (variants of concern: VOC) của SARS-CoV-2 là các biến thể có bất kỳ đặc điểm nào sau đây: 

1) Khả năng lây nhiễm tăng: làm tăng tỷ lệ lây nhiễm ở người,

2) Độc lực tăng: làm tăng mức độ nặng hoặc tăng tỷ lệ tử vong,

3) Khả năng phát hiện giảm: làm giảm khả năng phát hiện bằng các xn hiện tại,

4) Khả năng phòng ngừa và điều trị giảm: làm giảm hiệu quả của các loại vaccin hoặc phương pháp điều trị hiện có.

Đến 25-11-2021, có 4 biến thể SARS-CoV-2 được xác định là các biến thể cần được quan tâm (CDC, 15/6/2021), gồm: các biến thể B.1.1.7 (Alpha), B.1.351 (Beta), P.1 (Gamma), và B.1.617.2 (Delta). 

Biến thể Delta plus AY4.2. Giữa 10/2021, người ta đã xác định thêm một dòng con (sublineage) của biến thể Delta, gọi là biến thể Delta plus AY4.2. So với biến thể Delta, biến thể Delta plus AY4.2 có thêm 3 đột biến Y145 H, A222V và K417N ở vùng gắn thụ thể (RBD), làm tăng lây nhiễm lên 10-15%. 

Biến thể Omicron. Ngày 24/11/2021, một biến thể mới xuất hiện ở Nam Phi là B.1.1.529 với nhiều đột biến ở protein gai hơn các biến thể VOC được báo cáo cho WHO. Ngày 26/11/2021, WHO xếp B.1.1.529 là biến thể cần quan tâm, đặt tên là Omicron. Ở biến thể Omicron, người ta đã phát hiện 37 đột biến ở protein gai, gồm 29 đột biến ở vùng S1, gồm 11 đột biến ở vùng NTD, 15 đột biến ở vùng RBD và 3 ở vùng CTD. Trong số 15 đột biến ở vùng RBD, có 10 đột biến nằm ở vùng RBM. Vùng S2 có 8 đột biến (Thomas L, 2021).

Trong số 37 đột biến ở biến thể Omicron, 25 đột biến được thấy là duy nhất đối với biến thể này, trong khi 12 đột biến được chia sẻ với các VOC khác như Alpha, Beta, Gamma và Delta. Các đột biến RBD K417N, K477N, T478K và E484A có khả năng né tránh miễn dịch. Các đột biến T478K và E484A gây nên khả năng thoát miễn dịch, đột biến K477N chống lại sự trung hòa bởi các kháng thể đơn dòng. 

Bốn đột biến trong Omicron ở vùng RBD là G339D, N440K, T478K và N501Y có thể làm tăng tăng ái lực liên kết với ACE2. Các đột biến Q493, Q498 và N501, nếu bị thay thế bằng các aa không phân cực, ái lực liên kết RBD-ACE2 sẽ tăng, lây nhiễm mạnh hơn. 

3.2. Các biến thể SARS-CoV-2 cần được chú ý 

Một biến thể SARS-CoV-2 cần được chú ý (variants of interest: VOI) là các biến thể có các đặc điểm sau:

- Có các dấu hiệu di truyền ảnh hưởng đến sự lây lan, chẩn đoán, điều trị hoặc sự thoát miễn dịch,

- Có bằng chứng cho thấy nó là nguyên nhân gia tăng tỷ lệ ca bệnh hoặc ổ dịch,

- Có tỷ lệ phổ biến hoặc lây lan hạn chế ở Hoa Kỳ hoặc ở các quốc gia khác.

Một biến thể cần chú ý có thể cần một hoặc nhiều hành động y tế công cộng thích hợp, bao gồm việc nâng cao khả năng giám sát, kỹ thuật xét nghiệm hoặc điều tra dịch tễ học để đánh giá mức độ lây lan của virus, mức độ nghiêm trọng của bệnh, hiệu quả điều trị và vaccin.

Có 7 loại biến thể SARS-CoV-2 cần được chú ý (VOI), gồm:

3.3. Các biến thể SARS-CoV-2 đang được theo dõi 

Các biến thể đang được theo dõi (variants under monitoring) của SARS-CoV-2 đã được phát hiện thông qua báo cáo dịch bệnh, sàng lọc biến thể gen dựa trên quy tắc hoặc bằng chứng khoa học sơ bộ. Các biến thể này có thể có các đặc điểm:

- Có thể có các đặc điểm tương tự như của biến thể cần quan tâm (VOC) nhưng:

- Bằng chứng còn yếu, 

- Phải có ít nhất một đợt bùng phát, 

- Được phát hiện ở một cộng đồng trong EU/EEA hoặc phải có sự lây nhiễm cộng đồng ở những nơi khác trên thế giới.

Có 19 các biến thể đang được theo dõi  (Bảng 3).

Ngoài 3 loại biến thể của SARS-CoV-2 nêu trên, người ta còn đưa ra khái niệm về các biến thể SARS-CoV-2 hậu quả cao (variants of high consequence: VOHC), có thể có các đặc điểm có thể có như sau:

- Có các thuộc tính khác ngoài các thuộc tính của một biến thể cần quan tâm

- Có sự tác động đến các biện pháp đối phó y tế 

- Có bằng chứng về sự chẩn đoán thất bại

- Hiệu quả tạo kháng thể và khả năng bảo vệ của vaccin bị giảm rõ rệt

- Làm giảm rõ rệt độ nhạy đối với các trị liệu đã được phê duyệt.

- Có bệnh cảnh lâm sàng nặng hơn và số lần nhập viện tăng.

Khi một biến thể của hậu quả cao xuất hiện, cơ quan chức năng cần phải thông báo ngay cho WHO và CDC để sớm có các chiến lược về ngăn chặn lây nhiễm, phương pháp điều trị và vaccin. 

Tuy nhiên, đến nay, người ta chưa phát hiện biến thể SARS-CoV-2 nào có mức độ gây hậu quả cao.

4. Các loại vaccin và hiệu quả của chúng đối với các biến thể SARS-CoV-2 mới

4.1. Hiệu lực, hiệu quả và tác dụng bảo vệ của vaccine 

4.1.1. Hiệu lực (efficacy) của vaccine

Hiệu lực của vaccine là việc so sánh kết quả một thử nghiệm lâm sàng dựa trên số người đã tiêm vaccine bị bệnh so với số người dùng giả dược. Hiệu lực của vaccine là khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh. Ví dụ, 1 loại vaccine có hiệu quả là 80%, có nghĩa là trong một thử nghiệm LS, nhóm người được tiêm vaccine có nguy cơ bị bệnh <80% so với nhóm được tiêm giả dược. 

4.1.2. Hiệu quả (effectiveness) của vaccine 

Hiệu quả của vaccine là hiệu quả tác động của vaccine trong thế giới thực. Các thử nghiệm LS để đánh giá hiệu quả gồm nhiều đối tượng hơn, độ tuổi rộng hơn, giới tính, chủng tộc và các tình trạng bệnh lý khác nhau. 

Hiệu quả được đo bằng cách quan sát hiệu quả tác động của vaccine đối với việc bảo vệ cộng đồng nói chung.

4.1.3. Tác dụng bảo vệ (protection) của vaccine

1) Bảo vệ theo thời gian 

Vaccine cung cấp sự bảo vệ mạnh, nhưng cần thời gian để tạo miễn dịch đầy đủ. Với vaccine hai liều, sau liều 1 chỉ bảo vệ một phần, và liều 2 làm tăng khả năng bảo vệ. Vaccine 1 liều, sẽ có khả năng miễn dịch tối đa sau vài tuần.

2) Bảo vệ đối với sự nhiễm virus

Vaccine không tạo khả năng bảo vệ đầy đủ (100%), người đã tiêm đủ 2 mũi vaccine vẫn có thể bị nhiễm SARS-CoV-2, nhưng bị nhẹ hơn, bệnh nặng hoặc tử vong ít hơn nhiều. 

Trong một NC trên 51.281 ca tử vong do mắc COVID- 19, người ta thấy rằng ở nhóm người đã tiêm đủ 2 mũi vaccine, tỷ lệ tử vong chỉ là 1,2% (640/ 51.281), ở những người mới tiêm 1 mũi là 22,8% (11.617/ 51.281) và ở những người chưa tiêm là 76,0% (38.964/ 51.281).

3) Bảo vệ bảo vệ đối với sự lây truyền 

Cần có thêm bằng chứng để xác định chính xác mức độ ngăn chặn sự lây truyền của SARS-CoV-2.

4) Bảo vệ đối với các biến thể 

Vaccine vẫn có hiệu quả chống lại các biến thể SARS-CoV-2 hiện có, đặc biệt là ngăn ngừa bệnh nặng, nhập viện và tử vong (Bảng 6). 

4.2. Các loại vaccin 

Hiện có hơn 180 ứng cử viên vaccine đang được phát triển để chống lại SARS-CoV-2. Hầu hết các loại vaccin này đều được thiết kế để cảm ứng hệ thống miễn dịch của cơ thể nhằm tạo ra các kháng thể trung hòa chống lại protein S, giúp nhận biết và ngăn chặn virus một cách an toàn (Krammer F, 2020 [6]; Kyriakidis NC, 2021 [7]).

Một số loại vaccine đối với COVID-19 đang được phát triển, gồm:

1) Các vaccin virus bất hoạt hoặc bị làm suy yếu (inactivated or weakened virus vaccines): là loại vaccine được sản xuất bằng cách sử dụng một dạng virus đã bị bất hoạt hoặc suy yếu, không gây bệnh, nhưng vẫn có khả năng tạo ra kháng thể. Ví dụ: các vaccine Sinopharm và Sinovac. 

2) Các vaccin dựa trên protein hoặc các vaccine tiểu đơn vị protein (protein-based vaccines or protein subunit vaccines): là loại vaccine được sản xuất bằng cách sử dụng các mảnh hoặc vỏ protein vô hại có khả năng bắt chước virus COVID-19 để tạo ra kháng thể một cách an toàn. Ví dụ: vaccine Novavax . 

3) Các vaccin vectơ virus (viral vector vaccines): là loại vaccin được sản xuất bằng cách sử dụng một loại virus an toàn không gây bệnh nhưng có khả năng sản xuất các protein virus có thể tạo kháng thể. Ví dụ: các vaccine Oxford-AstraZeneca, Johnson & Johnson, và Sputnik V.

4) Vaccin DNA (DNA vaccines): là loại vaccin được sản xuất bằng cách sử dụng DNA được biến đổi gen để tạo ra một protein gai của SARS-CoV-2, protein này thúc đẩy việc tạo ra kháng thể chống lại SARS-CoV-2. Các vaccin DNA được thiết kế đơn giản, có độ an toàn cao, và có hiệu giá kháng thể cao. Ví dụ: vaccin DNA là INO-4800 (Inovio), hiện đang được thử nghiệm LS giai đoạn 2.

5) Vaccin mRNA (mRNA vaccines): là loại vaccin được sản xuất bằng cách sử dụng các mRNA được thiết kế đơn giản, có khả năng tạo ra protein gai, từ đó kích thích cơ thể tạo ra kháng thể chống SARS-CoV-2 mạnh. Ví dụ: các vaccin RNA gồm Pfizer-BioNTech và  Moderna) (Pandey SC, 2020 [8]).

4.3. Hiệu quả của các vaccin đối với các biến thể Sars-CoV-2 mới

Hiệu quả của các vaccine đối với sự ngăn chặn bệnh, tỷ lệ nhập viện, độ nặng của bệnh và tỷ lệ tử vong đối với các biến thể VOC của SARS-CoV-2 có sự khác nhau. Khả năng bảo vệ của các loại vaccine giảm theo thời gian (Bảng 2).

Bảng 4. Cơ chế tác dụng và hiệu quả của các loại vaccine Covid-19 đối với các thể SARS-CoV-2  chung và với biến thể Delta (Mascellino MT, 2021 [5], …)

4.4. Sự tổng hợp protein gai của vaccine mRNA và mRNA tự khuếch đại (samRNA)

Hình 3. Sự tổng hợp kháng nguyên protein gai của vaccine mRNA và của vaccine mRNA tự khuếch đại (self-amplifying mRNA: samNA) (Borah P, 2021). LNP: lipid Nanoparticles; NSPs: các protein phi cấu trúc (non-structural proteins).

4.5. Cơ chế tạo miễn dịch chống SARS-CoV-2 của các vaccine

4.5.1. Cơ chế tạo miễn dịch của vaccine mRNA và vaccine vector virus
Hình 6. Cơ chế tạo miễn dịch tế bào và dịch thể chống SARS-CoV-2 của các vaccine COVID-19 mRNA và vector adenovirus (Teijaro JR and Farber DL, 2021) 

4.5.2. Cơ chế tạo miễn dịch của vaccine tiểu đơn vị protein (protein subunit vaccine)

Hình 7. Cơ chế tạo miễn dịch của vaccine tiểu đơn vị protein (Mayo Clinic, 2021). Các chất subtances có thể là các muối nhôm (aluminum salts), các chất đồng vận của thụ thể giống Toll (Toll-Like Receptor agonists), hoặc huyền phù (emulsions). 

Ở Việt Nam, vaccin Nanocovax của Công ty Dược NANOGEN là một vaccin tiểu đơn vị (protein subunit vaccine), được sản xuất bằng cách sử dụng tiểu đơn vị protein gai tái tổ hợp (recombinant S-protein subunit) của SARS-CoV-2 kết hợp với chất bổ trợ miễn dịch (adjuvant) là các vi hạt silica. TN gđ 1 ngày 12/2020 trên 60 người, gđ 2 ngày 2/2021 trên 560 người và gđ 3 vào 6/ 2021 trên 13.000 người. Kết quả cho thấy Nanocovax có khả năng sinh kháng thể ở 100% số người được tiêm vaccin, có hiệu quả đối với các biến thể Alpha và Beta (theo NANOGEN JSC). 

 Ứng viên còn lại đang thử nghiệm LS gđ 1 là COVIVAC của Viện Vaccin và sinh phẩm Nha Trang (IVAC). Vaccin COVIVAC sử dụng công nghệ vector, gắn gen mã hóa protein S của virus SARS-CoV2 lên virus cúm Newcastle Lasota không gây bệnh trên người, ... 

IVAC cho biết dự kiến quy mô sản xuất khoảng 6 triệu liều vaccin/ năm. Trong khi đó, Nanogen dự kiến quy mô sản xuất khoảng 20 -30 triệu liều/ năm và có thể nâng công suất khi được đầu tư. 

Khả năng miễn dịch được tạo ra sau khi nhiễm SARS-CoV-2 tự nhiên còn rất bấp bênh. Do đó, việc sử dụng vaccin là cách tiếp cận hứa hẹn nhất để giúp chúng ta trở lại bình thường (Chen J and Lu HZ, 2021 [3]).

5. Cơ chế tác dụng của các loại thuốc kháng COVID-19

1) Ức chế virus đi vào tế bào vật chủ (viral to host cell): rhACE2 (recombinant human ACE2), bromhexine, arbidol, hydroxychloroquine, ruxolitinib và baricitinib; casirivimab, imdevimab, sotrovimab, bamlanivimab và etesevimab. 

2) Ức chế sự nhân lên của virus (viral replication): enzym RdRp có thể bị ức chế bởi remdesivir, molnupiravir, favipiravir và ribavirin, oseltamivir, emtricitabine và tenofovir; 

3) Ức chế các protease (viral proteases): atazanavir, lopinavir, darunavir, danoprevir và noscapine; 

4) Tăng cường miễn dịch (immunoenhancement): interferon-alpha, interferon-beta, nivolumab (chặn PD-1; 

5) Điều biến miễn dịch (immunodulating): immunoglobulin tiêm tĩnh mạch, fingolimod và thalidomide; baricitinib (olumiant), actemra (tocilizumab).

6) Ức chế miễn dịch (immunosupressive): corticosteroid, các kháng thể đơn dòng tocilizumab, sarilumab, siltuximab (ức chế IL-6) và NSAID (paracetamol, ibuprofen); 

7) Tăng thông khí phổi, an thần: nitric oxide, sildenafil, aviptadil, propofol-lipuro 1%  fresenius kabi propoven 2%, bevacizumab và losartan [6].

 

KẾT LUẬN


1) Sinh học của SARS-CoV-2: SARS-CoV-2 là một virus loại RNA, sợi đơn, dương, kích thước ~29,9 kB, có 14 khung đọc mở (ORF). Nó có phức hợp sao chép, các gen cấu trúc gai (S), bao (E), màng (M) và nucleocapsid (N); các đột biến ở RBD, đặc biệt là ở RBM, có khả năng làm tăng khả năng lây lan và né tránh miễn dịch. Vòng đời của SARS-CoV-2 gồm 9 giai đoạn: protein gai liên kết với ACE2 để virus xâm nhập vào TB chủ; virion phóng thích RNA bộ gen, dịch mã RNA thành RdRp; sao chép bộ gen; phiên mã thành các mRNA, dịch mã thành các protein cấu trúc, lắp ráp các protein cấu trúc, hình thành virion và xuất bào.

2) Cách xử lý mẫu và giải trình tự toàn bộ bộ gen của các biến thể SARS-CoV-2 mới gồm: (1) Các mẫu từ gạc dịch tỵ-hầu hoặc dịch hút khí quản được thu thập và đông lạnh ở -70°C cho đến khi sử dụng; (2) Tất cả các mẫu đều được chuẩn bị để tách chiết và khuếch đại RNA. (3) Tổng cDNA được tổng hợp bằng hệ thống enzym phiên mã ngược và các đoạn mồi. (4) Cuối cùng, tất cả các mẫu được giải trình tự theo giải trình tự Sanger hoặc giải trình tự thế hệ mới (NGS).

3) Các biến thể của SARS-CoV-2 được chia thành ba loại: các biến thể cần quan tâm (VOC), các biến thể cần chú ý (VOI) và biến thể đang được theo dõi. Các biến thể cần quan tâm (VOC) gồm: B.1.1.7 (Alpha), B.1.351 (Beta), P.1 (Gamma), B.1.427 (Epsilon), B.1.429 (Epsilon), B.1.617.2 (Delta) và từ ngày 26-11-2021 là biến thể Omicron. 

4) Một số vaccin tiềm năng đối với COVID-19 đang được phát triển gồm: (1) các vaccin virus bất hoạt hoặc bị làm suy yếu; (2) các vaccin dựa trên protein; (3) các vaccin vectơ virus; (4) các vaccin RNA và (5) DNA. Khả năng lây lan và né tránh miễn dịch do vaccin tạo của SARS-CoV-2 nên là điều đáng quan tâm nhất.

5) Cơ chế tác dụng của các loại thuốc kháng COVID-19 có thể gồm: 1) Ức chế virus đi vào tế bào vật chủ; 2) Ức chế sự nhân lên của virus; 3) Ức chế các enzym protease; 4) Tăng cường miễn dịch; 5) Ức chế miễn dịch; 6) Điều biến miễn dịch; 7) Thông khí phổi và an thần.

Tài liệu tham khảo

1. Astuti I and Ysrafil. Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2 (SARS-CoV-2): An overview of viral structure and host response. Diabetes Metab Syndr 2020 July-August; 14(4): 407-412. 

2. Bian L, Gao F, Zhang J, et al. Effects of SARS-CoV-2 variants on vaccine efficacy and response strategies. Expert Rev Vaccines 2021 Apr 14: 1-9.

3. Chen J and Lu HZ. New challenges to fighting COVID-19: Virus variants, potential vaccines, and development of antivirals. Biosci Trends 2021 May 11; 15(2): 126-128.

4. Hokello J, Sharma AL, Shukla GC, Tyagi M. A narrative review on the basic and clinical aspects of the novel SARS-CoV-2, the etiologic agent of COVID-19. Ann Transl Med  2020 Dec; 8(24): 1686.

5. Koyama T, Platt D & Parida L. Variant analysis of SARS-CoV-2 genomes. Bulletin of the World Health Organization 2020; 98: 495-504. 
6. Krammer F. SARS-CoV-2 vaccines in development. Nature 2020 Sep 23; 586: 516-527.

7. Kyriakidis NC, López-Cortés A, González EV, Grimaldos AB & Prado EO. SARS-CoV-2 vaccines strategies: a comprehensive review of phase 3 candidates. NPJ Vaccines 2021 Feb 22; 6(1): 28.

8. Pandey SC, Pandea V, Sati D, Upreti S, Samanta M. Vaccination strategies to combat novel corona virus SARS-CoV-2. Life Sciences 2020 Sep 1; 256: 117956.

9. Powers C, Feldman K, Rewari P, Choi M and Chen R. How COVID-19 variants impact treatments and vaccines. Pharmaceuticals & Biotech 2021 Apr 2. 

10. Shang J, Wan Y, Luo C, Ye G, Geng Q. Cell entry mechanisms of SARS-CoV-2. PNAS May 26, 2020; 117(21): 11727-11734.

11. Taboada B, Vazquez-Perez JA, Muñoz-Medina JE, et al. Genomic Analysis of Early SARS-CoV-2 Variants Introduced in Mexico. J Virol 2020 Aug 31; 94(18): e01056-20.

12. Ward P, Gabbay F, Holland B, Tansey S, and Saleem T. COVID-19/SARS-CoV-2 Pandemic. Faculty of Pharmaceutical Medicine blog 2020 April 6.

Bài viết cùng chuyên mục:

>>> Các loại vaccine phòng Covid-19

>>> VIRUS CORONA (Covid 19) - Cách phòng tránh hiệu quả

>>> Hướng dẫn thực hành tiêm chủng vắc xin phòng covid-19

Tham khảo sử dụng sản phẩm BLCare Max giúp bổ phổi:

BLCare Max là viên uống bảo vệ sức khỏe hô hấp, bảo vệ phổi trước các tác nhân gây hại và phục hồi chức năng phổi bị hư tổn, giúp phòng chống và hỗ trợ điều trị ung thư phồi và các bệnh lý về phổi như Viêm phổi, Viêm phế quản, Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), Viêm màng phổi (viêm phế mạc), Thuyên tắc phổi, Phù phổi, Xơ hóa phổi, Bệnh bụi phổi, Hội chứng suy hô hấp, Bệnh u hạt (Sarcoidosis), Hen phế quản ...

BLCare Max

https://bizweb.dktcdn.net/100/164/964/files/hotline-dat-hang.jpg?v=1498880799513

BLCare Max là một sản phẩm chuyên biệt cho phổi được đăng ký bản quyền thương hiệu giữa các nhà khoa học của Hãng Enrinity Supplements Inc và Nhà Xuất Khẩu Veda Biologics, LLC U.S.A và nhà phân phối BNC Medipharm để hỗ trợ điều trị các bệnh lý phổi, trong đó dược chất chính là N-Acetyl Cystein là tiền chất của dược chất Glutathione kết hợp các dược chất chiết xuất thiết yếu có hoạt tính sinh học cao, với sinh khả dụng mạnh tác dụng hợp đồng cộng hưởng thúc đẩy sức khỏe của phổi, giãn phế quản và kiểm soát các tế bào viêm, ức chế giải phóng các chất trung gian gây viêm, từ đó làm giảm chất nhầy trong đường hô hấp và tống đẩy đờm ra ngoài.

BLCare Max là phức hợp độc quyền giữa các dược chất sinh học chiết xuất từ cây xương cựa thương hiệu MPC, giống nho (Muscadine) trồng ở Georgia, Nấm Linh Chi và mô tuyến ức. Tất cả các thành phần dược liệu đều có nguồn gốc tự nhiên này được định hướng chuyên sâu bằng các nghiên cứu khoa học tập trung để cải thiện sức khỏe đường hô hấp giúp dễ thở, thông khí tối ưu, an toàn và hiệu quả. BLCare Max giúp giảm ho, long đờm, giải độc và làm sạch phổi, loại bỏ tắc nghẽn, giảm co thắt, tăng cường sức khỏe các mô phế nang phổi, cải thiện khả năng hấp thụ và tiêu thụ oxy của phổi, giữ lưu thông đường thở thông thoáng và cân bằng lượng chất nhầy, giảm tiết chất nhầy trong bệnh rối loạn chức năng nhầy, bệnh nhầy nhớt.

>>> Chi tiết sản phẩm xem tại: BLcare Max - Giải pháp cho người bệnh phổi

Viết bình luận